Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ngan hang. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Nói và làm: Lạm phát, đừng nói không đáng lo

Dường như đang xuất hiện những thái độ lạc quan thái quá khi nhiều người đã tuyên bố tăng giá, bơm tiền vẫn không lo lạm phát. Trong khi những bài học về lạm phát trước đây do tiền tệ và giá cả vẫn còn nguyên giá trị.


                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >>

Kinh tế khó khăn kéo dài, Chính phủ đã thực thi rất nhiều biện pháp để ổn định và phục hồi tăng trưởng. Tuy nhiên, dường như đang xuất hiện những thái độ lạc quan thái quá khi nhiều người đã tuyên bố tăng giá, bơm tiền vẫn không lo lạm phát. Trong khi những bài học về lạm phát trước đây do tiền tệ và giá cả vẫn còn nguyên giá trị.


Trong báo cáo mới đây, Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia đã cho rằng, dù hiện tượng CPI giảm 2 tháng vừa qua đáng quan tâm nhưng nhiều khả năng CPI sẽ tăng lại vào những tháng tới đây. Bản chất việc CPI giảm thấp trong thời gian qua, đặc biệt là giảm nhanh ở 2 tháng 6 và 7 không phải do chính sách tiền tệ mà là dựa nhiều vào các yếu tố bên ngoài, như giá lương thực, thực phẩm và xăng dầu. Vì vậy, việc lạm phát giảm thấp sẽ chỉ mang tính tạm thời và có thể chính những yếu tố này sẽ tác động ngược lại đối với CPI trong thời gian tới.


Cơ quan giám sát này đã cảnh báo, trong bối cảnh này, nếu nới lỏng chính sách quá mức thì nguy cơ sẽ lại làm bùng nổ lạm phát vào những năm tiếp theo. Đây là điều tuyệt đối cần chú ý ở năm 2013.


Thế nhưng, trong những diễn biến mới đây về chính sách tài khóa, tiền tệ và giá cả... hầu hết đều theo xu hướng bơm thêm tiền, đẩy mạnh tín dụng và tăng giá thì hầu như tất cả đều có chung một quan điểm: không ảnh hưởng và không lo lạm phát tăng trở lại. Liệu đây có phải là một sự lạc quan tái quá hay là vẫn là một quan điểm điều hành theo mục tiêu ngắn hạn mà chúng ta vẫn thường thấy?


Để hỗ trợ và kích thích kinh tế, Chính phủ đang tăng đầu tư công trở lại sau thời kỳ siết chặt để chống lạm phát. Theo đó, ngoài việc giải ngân 20 ngàn tỷ nằm trong kế hoạch 2012 thì sẽ ứng trước 30.000 tỷ đồng của tài khóa năm 2013. Tính ra, trong nửa cuối năm nay mỗi tháng sẽ có khoảng 22.000 - 23.000 tỷ đồng vốn đầu tư công được giải ngân.


Đây là một lượng tiền khá lớn bơm ra trong thời gian còn lại của 2012. Tuy nhiên, các quan chức cho rằng, sự dồi dào của dư địa vốn đầu tư công nên việc tăng vốn đầu tư sẽ không lo lạm phát.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia kinh tế đã bày tỏ sự lo ngại cho rằng; nếu giải ngân chỉ để tăng trưởng GDP thì quá đơn giản. Việc giải ngân bao nhiêu cần phải căn cứ vào năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế, việc giải ngân phải bảo đảm có hiệu quả, không nên đầu tư bằng mọi cách hết số tiền trên mà không đảm bảo tính hiệu quả thì lạm phát sẽ lại cao, tăng trưởng trì trệ, rồi lại giảm lạm phát, rồi lại kích thích tăng trưởng, vòng quay đấy sẽ gây khó khăn rất lớn cho doanh nghiệp.


Trong khi đó, cho đến thời điểm hiện nay, tăng trưởng tín dụng vẫn ở mức thấp dưới 1% và gần như không thể đạt được mục tiêu tăng trưởng tín dụng đề ra. Chính vì thế, Ngân hàng Nhà nước đã đẩy nhanh lộ trình giảm lãi suất và dự kiến có thể sẽ hạ lãi suất tiếp; cùng với đó là hàng loạt biện pháp để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng...


Tuy nhiên, trong khi đang tập trung cho đẩy mạnh tín dụng, dường như nguy cơ lạm phát do nới lỏng chính sách tiền tệ mà Việt Nam liên tiếp mắc phải trong thời gian qua đã không được nhắc đến.


Tính toán của chuyên gia từ Ủy ban giám sát tài chính cho thấy, nếu tín dụng từ nay đến cuối năm mỗi tháng tăng 1,5% (tương đương 6 tháng là 9%) thì tăng trưởng GDP của cả năm 2012 từ 5,3-5,4%. Với mức này, lạm phát 5 tháng sau đó từ 0,5-1% mỗi tháng. Nếu tín dụng là 2%/tháng thì 6 tháng, cuối năm sẽ là 12%, GDP cả năm 2012 có thể đạt 5,5-5,6%. Tuy nhiên, như vậy nguy cơ lạm phát sẽ quay trở lại 5 tháng sau đó.


Vấn đề đặt ra là, tăng trưởng tín dụng có thể là 17% nhưng nếu chia đều cho 12 tháng thì lạm phát sẽ rất thấp. Ngược lại, nếu tăng trưởng tín dụng chỉ là 12% nhưng lại chỉ trong 6 tháng thì vô cùng nguy hiểm, nền kinh tế không hấp thụ hết lượng tiền mặt dư thừa và như vậy lạm phát sẽ trở lại.


Đây không phải là lần đầu tiên cơ quan này nhắc đến nguy cơ này, trước đó cơ quan giám sát tài chính đã nêu cảnh báo, mỗi khi lượng vốn trên 90 nghìn tỷ đồng/tháng được đưa vào nền kinh tế thì mức lạm phát 6 tháng sau đó đều trên 2%/tháng. Do đó, để ổn định kinh tế vĩ mô trung và dài hạn, các biện pháp tăng tổng cầu nền kinh tế cần được phân bổ với qui mô và liều lượng phù hợp với khả năng hấp thụ của nền kinh tế. Tránh nguy cơ lạm phát quay trở lại.


Trong hơn 1 tháng qua, khi điện tăng giá 5%, gas tăng giá hơn 20%, xăng hai lần tăng giá hơn 5%... nhưng tất cả các DN và cơ quan quản lý trực tiếp đều tuyên bố rằng: giá tăng không ảnh hưởng đến đời sống người dân và không gây lạm phát. Và dường như thế là đã đủ nên trong các thông tin và giải trình tăng giá các mặt hàng quan trọng gần đây người ta đã không còn đưa ra các tính toán về tác động của tăng giá lên hàng hóa và dịch vụ cụ thể cũng như lạm phát nói chung.

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Cần đẩy nhanh thủ tục xử lý tài sản đảm bảo để giải quyết nợ xấu

Để xử lý tài sản đảm bảo bằng bất động sản mất 3 năm, do vậy khó có thể khuyến khích các TCTD mạnh dạn cấp thêm tín dụng cho khách hàng.


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

Nợ xấu được ví như cục máu đông rất lớn đang tốn tại trong hệ thống ngân hàng. Phá vỡ cục máu đông càng sớm thì các ngân hàng càng sớm bơm tín dụng ra nền kinh tế. Nhiều ý kiến đóng góp để xử lý nợ xấu như sử dụng nguồn dự phòng rủi ro, bán tài sản đảm bảo thu hồi nợ, thành lập công ty mua bán nợ quốc gia, hay tạo ra thị trường mua bán nợ xấu..

Trong đó bán tài sản đảm bảo vay vốn được coi là biện pháp khả thi nhưng hiện đang gặp nhiều khó khăn.

Quyết định 780/QĐ-NHNN: Mở đường cho ngân hàng cơ cấu nợ

Để giúp các TCTD có cơ chế xử lý nơ phù hợp với hoàn cảnh hiện tại, NHNN đã ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN cho phép các TCTD giữ nguyên nhóm nợ đối với khoản nợ sau khi cơ cấu hoãn giãn nợ.

Với quyết định này của NHNN, các TCTD sẽ rà soát, đánh giá lại hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ thì sẽ giữ nguyên nhóm nợ như đã được phân loại trước khi thực hiện tái cơ cấu. Điều này giúp doanh nghiệp không bị tụt hạng tín nhiệm với ngân hàng, từ đó ngân hàng có cơ sở để cho vay tiếp.

Theo ông Hàn Ngọc Vũ, Chủ tịch HĐQT VIB, Quyết định 780 của NHNN đã giúp ngân hàng giảm áp lực với quản trị nợ xấu. Tuy nhiên trong thực tế thì hiệu quả cơ cấu nợ không cao như mong đợi.

Lý giải cho điểm này, ông Vũ cho rằng theo quy định thì ngân hàng chỉ cơ cấu cho các khách hàng có chiều hướng hoạt động sản xuất kinh doanh tích cực, có khả năng trả nợ sau khi cơ cấu. Trong khi đó các khách hàng có nhu cầu cơ cấu nợ đều khó khăn về tài chính, thiếu hụt hoặc không có khẳ năng thanh toán. Phương án kinh doanh và trả nợ ngân hàng không thực sự rõ ràng, khó đáp ứng các điều kiện tại quyết định 780 của NHNN

“Cùng với đó các TCTD vẫn phải đối diện với thực tiễn là những tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo tài chính không đáp ứng được nhu cầu quản trị để thực sự thu hồi được nợ xấu.” – ông Vũ nói.

Chia sẻ quan điểm với ông Vũ, bà Nguyễn Thị Nga, Chủ tịch HDQT Seabank đánh giá quyết định 780 thực sự là “cẩm nang giúp ngân hàng” cơ cấu lại nợ cho các khách hàng.

“Quyết định 780 giúp ngân hàng cơ cấu lại nợ một cách đàng hoàng mà không phải sợ cơ quan Thanh tra giám sát của NHNN”- bà Nga phát biểu.

Tuy nhiên theo bà Nga thì để việc cơ cấu nợ thực sự hiệu quả cần phối hợp thêm nhiều chính sách khác, nếu chỉ dừng lại ở đây thì khó thúc đẩy được quá trình cơ cấu nợ cho doanh nghiệp, người dân. Như thế thì nguy cơ nợ xấu tiếp tục dâng lên là hiện hữu.